A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

FDI tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng

Trong bối cảnh dòng chảy vốn toàn cầu đang có nhiều biến động, việc định vị lại vai trò của nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và mối liên kết với khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam…

FDI tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng

Thu hút FDI ngày càng tăng.

Tại Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026 với chủ đề “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho biết, nhìn lại giai đoạn 5 năm vừa qua, tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 17 triệu tỷ đồng (tương đương 680 tỷ USD). Đáng lưu ý, cơ cấu nguồn vốn đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Trong đó, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 27% tổng nguồn vốn đầu tư. Phần lớn nguồn lực còn lại (chiếm tới 73%) đến từ khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. “Khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm vốn đầu tư nước ngoài đã đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền kinh tế của chúng ta”, TS Bình nhấn mạnh.

Đặc biệt, nguồn vốn FDI đã thể hiện sức tăng trưởng vượt bậc khi tăng gấp rưỡi chỉ trong vòng 5 năm, từ 2,9 triệu tỷ đồng lên đến khoảng 4,2 triệu tỷ đồng. Không chỉ dừng lại ở con số đăng ký (khoảng 184 tỷ USD), tỷ lệ giải ngân vốn FDI tại Việt Nam đạt mức rất cao lên tới 85% (khoảng 158 tỷ USD). Đây là một tỷ lệ đáng khích lệ khi so sánh với các quốc gia khác trong khu vực.

Cũng theo TS. Lê Duy Bình, nguồn vốn này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, giúp nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế. Ngoài ra, một phần vốn đáng kể chảy vào bất động sản nhưng không chỉ dừng lại ở nhà ở mà còn lan tỏa sang các khu du lịch nghỉ dưỡng và hạ tầng khu công nghiệp, tạo tiền đề thu hút thêm các dòng vốn khác. Đặc biệt, dù dòng vốn đầu tư toàn cầu có dấu hiệu chững lại và suy giảm, song Việt Nam vẫn khẳng định được sức hút mạnh mẽ của mình. Năm 2025, trong khi tổng dòng vốn FDI toàn cầu đạt khoảng 1.600 tỷ USD, Việt Nam đã thu hút được 38 tỷ USD, chiếm khoảng 2,7% thị phần thế giới.

FDI tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng

TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam.

Với kết quả này, Việt Nam nằm trong nhóm 15 nền kinh tế đang phát triển có sức hút FDI lớn nhất. Đồng thời cũng cho thấy vị trí của Việt Nam trong “con mắt” của các nhà đầu tư nước ngoài vẫn được tiếp tục khẳng định trên bản đồ vốn đầu tư thế giới. “Đây là nền tảng quan trọng để chúng ta tận dụng các xu thế mới, đặc biệt là xu hướng “đưa sản xuất về gần nhà” (near-shoring) hoặc đến các quốc gia thân thiện (friend-shoring)”, ông Bình khẳng định.

Cũng theo TS. Lê Duy Bình, bước sang giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhu cầu vốn là cực kỳ khổng lồ, dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân và FDI được kỳ vọng sẽ gánh vác tới 80% tổng nhu cầu vốn, trong khi Nhà nước chỉ đảm bảo được khoảng 20%.

Mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 45 - 50 tỷ USD vốn cam kết và 35 - 40 tỷ USD vốn giải ngân từ khu vực FDI để duy trì đà tăng trưởng. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là số lượng mà còn là chất lượng. Việt Nam đang hướng tới việc thu hút “FDI thế hệ mới”. “Thế hệ mới có nghĩa là nguồn vốn này phải đảm bảo vào những dự án hỗ trợ tăng trưởng xanh, có trách nhiệm xã hội, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam và gia tăng giá trị nội tại cho nền kinh tế”, TS. Lê Duy Bình giải thích.

Tuy nhiên, dù có số lượng doanh nghiệp FDI lớn nhưng sự liên kết giữa khu vực này và doanh nghiệp trong nước vẫn còn lỏng lẻo. Hiện cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp nhưng chỉ có khoảng 5.000 doanh nghiệp kết nối trực tiếp với chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc các tập đoàn đa quốc gia (MNCs). Đáng báo động hơn, trong số đó chỉ có 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1 hoặc cấp 2 và khoảng 100 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1 (bán hàng trực tiếp cho các tập đoàn lớn).

Nguyên nhân của sự đứt gãy này nằm ở những yếu tố nội tại của doanh nghiệp Việt. Đó là năng suất của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ bằng 1/2 so với Thái Lan và 1/4 so với Malaysia; có tới 60-70% doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗi thời và năng lực quản trị của doanh nghiệp Việt còn yếu, chưa sẵn sàng để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của quốc tế. “Chúng ta không thể chỉ hoàn toàn trông chờ vào thiện chí của các doanh nghiệp FDI hay sự hỗ trợ của Nhà nước. Nỗ lực tự thân của chính các doanh nghiệp trong nước để nâng cao năng lực quản trị và công nghệ là điều hết sức quan trọng”, TS. Lê Duy Bình nói.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết