Tăng hỗ trợ du học bằng ngân sách: Cần gắn với hiệu quả sử dụng nhân lực
Chính sách tăng hỗ trợ du học cần thiết kế sát chi phí thực tế, gắn với cơ chế phát huy năng lực nhân lực sau đào tạo.
|
Khi các chi phí thiết yếu được bảo đảm, người học có thể giảm áp lực tài chính, tập trung cho học tập, nghiên cứu và hạn chế phải làm thêm vì thiếu kinh phí. |
Giảm rào cản tài chính cho người có năng lực
Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở các nước phát triển, các nước có quan hệ truyền thống, có thế mạnh trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Trong đó, đề xuất điều chỉnh mức hỗ trợ sinh hoạt phí cho người được cử đi học bằng ngân sách nhà nước thu hút sự quan tâm, nhất là trong bối cảnh chi phí học tập và sinh hoạt tại nhiều quốc gia ngày càng cao.
Theo nội dung được đề xuất, mức hỗ trợ sinh hoạt phí có thể tăng khoảng 1,5 - 2 lần so với quy định trước đây. Đây là hướng điều chỉnh nhằm cải thiện điều kiện học tập, nghiên cứu cho người được cử đi nước ngoài theo các chương trình thuộc phạm vi chính sách.
PGS.TS Diệp Thanh Tùng, Phó Giám đốc Đại học Trà Vinh cho rằng, tăng mức hỗ trợ sinh hoạt phí là hướng điều chỉnh cần thiết. Khi các chi phí thiết yếu được bảo đảm, người học có thể giảm áp lực tài chính, tập trung cho học tập, nghiên cứu và hạn chế phải làm thêm vì thiếu kinh phí.
Theo ông Tùng, ý nghĩa sâu hơn của chính sách là mở rộng cơ hội tiếp cận đào tạo quốc tế cho những người có năng lực nhưng điều kiện kinh tế còn hạn chế, trong đó có đội ngũ giảng viên tại các địa phương. Việc hỗ trợ phù hợp sẽ góp phần để quá trình tuyển chọn dựa nhiều hơn vào năng lực và tiềm năng đóng góp, thay vì phụ thuộc vào khả năng gia đình có thể bù đắp chi phí.

Sinh viên Đại học Trà Vinh trong giờ học.
Tuy nhiên, mức tăng chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đáp ứng được nhu cầu thiết yếu tại nơi học và kinh phí được chi trả đúng hạn. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư phát triển nguồn nhân lực, gắn với nhu cầu đào tạo và sử dụng nhân lực sau khi hoàn thành chương trình.
Không chỉ đưa người đi học, cần tạo điều kiện phát huy năng lực
Từ góc độ cơ sở giáo dục đại học, PGS.TS Diệp Thanh Tùng đề xuất việc điều chỉnh mức hỗ trợ cần sát với chi phí sinh hoạt thực tế tại từng quốc gia. Theo ông, có thể xây dựng mức sinh hoạt phí cơ bản theo quốc gia, đồng thời tính đến sự khác biệt về chi phí giữa các thành phố; định kỳ rà soát, điều chỉnh khi giá cả và tỷ giá biến động lớn.
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý, chi trả cần minh bạch, bảo đảm người học nhận kinh phí kịp thời. Việc giám sát nên gắn với tình trạng và tiến độ học tập phù hợp từng bậc học, vừa bảo đảm sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, vừa hạn chế thủ tục không cần thiết.
Một vấn đề quan trọng khác là gắn quá trình đào tạo ở nước ngoài với nhu cầu sử dụng nhân lực trong nước. Ông Tùng cho rằng cần có thỏa thuận giữa cơ quan cấp kinh phí, đơn vị cử đi hoặc cam kết tiếp nhận và người học, trong đó xác định định hướng chuyên môn, vị trí công tác dự kiến, điều kiện làm việc và trách nhiệm của các bên. Cùng với đó, cần mở rộng cơ hội tiếp nhận những ứng viên xuất sắc, kể cả người chưa phải nhân sự cơ hữu của cơ sở giáo dục.
Theo PGS.TS Diệp Thanh Tùng, mối liên hệ giữa người học và đơn vị trong nước nên được duy trì ngay trong thời gian đào tạo. Người học có thể tham gia hoạt động học thuật, kết nối nhóm nghiên cứu, phát triển đề tài chung và mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài. Qua đó, việc cử người đi học không chỉ nâng cao trình độ cá nhân mà còn tạo thêm mạng lưới hợp tác quốc tế cho nhà trường.

Việc cử người đi học không chỉ nâng cao trình độ cá nhân mà còn tạo thêm mạng lưới hợp tác quốc tế cho nhà trường.
Sau khi người học trở về, đơn vị tiếp nhận cần bố trí công việc phù hợp, tạo điều kiện nghiên cứu và tiếp cận cơ sở vật chất. Các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu ban đầu, duy trì hợp tác quốc tế, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và trao đổi học thuật cũng cần được xem xét phù hợp với điều kiện thực tế.
“Điều cốt lõi là xây dựng một chu trình xuyên suốt: tuyển chọn đúng người, hỗ trợ đủ điều kiện, duy trì kết nối và sử dụng hiệu quả sau đào tạo”, PGS.TS Diệp Thanh Tùng nhấn mạnh.
Từ góc nhìn của PGS.TS Diệp Thanh Tùng, hiệu quả của chính sách không chỉ được đo bằng số người được cử đi học hay mức kinh phí hỗ trợ tăng lên, mà còn ở khả năng chuyển hóa kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm quốc tế thành năng lực giảng dạy, nghiên cứu, góp phần phát triển giáo dục đại học và nguồn nhân lực trong nước.











