A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giáo dục 2026-2035: Chọn đúng điểm nghẽn để bứt tốc

Bứt tốc chỉ đến nếu chọn đúng điểm nghẽn, chuyển mục tiêu từ “đúng quy trình” sang “đúng kết quả”, đồng bộ đánh giá thi cử, nâng năng lực thực thi và tăng trách nhiệm giải trình ở mọi cấp để cải cách giáo dục đi vào lớp học và thị trường lao động

Giai đoạn 2021–2025, “đột phá” giáo dục được nói nhiều nhưng chuyển biến còn chậm vì vướng nút thắt thực thi: Quản trị nặng đầu vào, giải trình mờ, thi cử chi phối dạy - học, năng lực quản trị địa phương và lãnh đạo nhà trường chưa theo kịp, kết nối cung - cầu kỹ năng lỏng, dữ liệu chưa phục vụ quyết định. Bước sang 2026 - 2035, nền tảng thể chế và quyết tâm chính trị tốt hơn, tạo cơ hội bứt tốc.

Nhìn lại giai đoạn 2021 - 2025, “đột phá” trong giáo dục và đào tạo được nhắc đến rất nhiều, chẩn đoán cũng khá đúng bệnh (quản trị nặng đầu vào, can thiệp hành chính, thiếu trách nhiệm giải trình theo kết quả, đứt gãy cung - cầu nhân lực, năng lực lãnh đạo nhà trường chưa theo kịp đổi mới), nhưng chuyển biến “căn bản” vẫn không mạnh như kỳ vọng, dù hệ thống có một số thành tựu hữu hình.

z7549542860958_a2f6c99db02ed3e7fa91598c90e5d0b4.jpg

TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ảnh: NVCC

Điểm yếu nằm ở chỗ “đột phá” khi ấy chủ yếu dừng ở tầng chủ trương, còn tầng vận hành vẫn bị ghì bởi cơ chế cũ: Chuẩn và dữ liệu phân mảnh, giải trình nghiêng về thủ tục - chi tiêu hơn là kết quả học tập, thi cử kéo hành vi dạy - học trở lại lối đối phó, và thiếu một “luật chơi” để cái đúng thắng cái tiện.

Ta nói nhiều về đổi mới phương pháp, đổi mới chương trình, tăng tự chủ, gắn đào tạo với thị trường lao động… nhưng động lực và cơ chế thực thi chưa đủ mạnh để biến tuyên ngôn thành thay đổi thường nhật ở lớp học, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm và trong cách địa phương phân bổ nguồn lực.

Vì vậy, cải cách dễ rơi vào thế “phong trào”: Nơi quyết liệt thì tiến nhanh, nơi yếu năng lực thì chậm hoặc hình thức; nơi làm thật lại mệt vì biểu mẫu, còn nơi làm khéo báo cáo thì vẫn an toàn.

Chính trong bối cảnh đó, cuối 2025 - đầu 2026 tạo ra một bước chuyển đáng chú ý: Lần đầu các điều kiện thể chế để tái thiết kế hệ thống được đặt lên bàn theo cách đồng bộ hơn, đi kèm ý chí chính trị và chương trình hành động có phân công.

Bộ Chính trị đặt tinh thần “đột phá” theo hướng không coi đó là khẩu hiệu, mà là đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế để tạo động lực và nguồn lực (tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW).

Chính phủ Việt Nam đặt tinh thần ấy xuống mặt đất bằng chương trình hành động và nhiệm vụ cụ thể, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa tuyên bố và thực thi.

Cùng lúc, nhiều luật then chốt có hiệu lực từ 1/1/2026 tạo một mặt bằng pháp lý thống nhất hơn cho toàn chuỗi giáo dục đào tạo: Chuẩn đầu ra, liên thông trình độ, chuẩn nhà giáo, bảo đảm chất lượng và trách nhiệm giải trình có cơ sở để “đặt lại nền” thay vì mỗi mảng chạy theo một luồng riêng.

dsc03385.jpg

Trách nhiệm giải trình có cơ sở để “đặt lại nền” thay vì mỗi mảng chạy theo một luồng riêng.

Song song, việc thống nhất đầu mối quản lý nhà nước cũng được thể chế hóa trong tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, qua đó hướng đến giảm tình trạng “2 bộ - 2 sở - 2 phòng” từng gây lãng phí hành chính, đầu tư trùng lặp và chồng chéo tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, nền tảng thể chế và sắp xếp tổ chức chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ của “đột phá” giai đoạn 2026 - 2035 là chọn đúng điểm nghẽn và tháo theo cách khả thi, đo được và tránh tác dụng phụ.

Bài học giai đoạn trước cho thấy: Nếu chỉ nhấn “đổi mới chuyên môn” mà không đụng tới “luật chơi” (chuẩn dữ liệu, phân bổ nguồn lực, cơ chế đánh giá, kỷ luật thực thi, trách nhiệm người đứng đầu), thì đổi mới sẽ bị hút trở lại quỹ đạo cũ; nhưng nếu vì sợ phân mảnh mà quay về quản trị vi mô và mệnh lệnh hành chính, thì tự chủ và đổi mới tại cơ sở lại bị nghẹt.

Vì vậy, khi nói đến chuẩn hóa giai đoạn 2026 - 2035, cần “khóa nghĩa” để tránh bị bắt bẻ và tránh biến chuẩn hóa thành lực kéo lùi: Tiến tới chuẩn hóa theo khung, tức thống nhất những “chuẩn chung” tối thiểu (dữ liệu, đầu ra, nhà giáo, kiểm định) để liên thông và giám sát chất lượng, nhưng đồng thời thiết kế các “chuẩn mở” cho phép cập nhật nhanh theo công nghệ và nhu cầu xã hội; khung chuẩn phải được rà soát, cập nhật định kỳ và có cơ chế điều chỉnh nhanh khi thực tiễn đổi khác, để chuẩn hóa trở thành nền cho thích ứng chứ không phải lực “đóng băng” hệ thống.

Trên nền đó, “đột phá” đến 2035 nên tập trung vào ba nút thắt có sức lan tỏa.

Một là chuyển trọng tâm quản trị từ “đúng quy trình” sang “đúng kết quả”, nhưng giải trình theo kết quả phải theo kiểu trung thực: đo tiến bộ chứ không chỉ đo mức đạt, đo công bằng vùng miền, kiểm chứng dữ liệu, và gắn khen thưởng - xử lý với cải thiện thực chất, nếu không sẽ trượt thành KPI hình thức.

Hai là đồng bộ hóa đánh giá - thi cử với mục tiêu năng lực, vì “cửa ải” đánh giá quyết định toàn bộ hành vi dạy - học; nếu đánh giá vẫn thưởng cho học thuộc và luyện mẹo thì mọi lời hứa “dạy học hiện đại” tiếp tục bị triệt tiêu.

Ba là nâng năng lực thực thi: Năng lực quản trị địa phương, năng lực lãnh đạo nhà trường và cơ chế kết nối cung-cầu kỹ năng; phân cấp chỉ hiệu quả khi năng lực tương xứng, còn gắn kết doanh nghiệp chỉ thành thật khi có “đơn hàng kỹ năng”, công nhận kết quả học trong doanh nghiệp và nguồn lực đi theo đơn hàng; đồng thời dữ liệu và chuyển đổi số phải phục vụ quyết định (phân bổ nguồn lực theo bất lợi, cảnh báo sớm bỏ học, bồi dưỡng theo nhu cầu thực, minh bạch chất lượng), chứ không phải số hóa để tăng một lớp hành chính.

Tóm lại, nếu giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy hạn chế lớn nhất của “đột phá” là thiếu cơ chế khiến cái đúng trở thành lợi ích của người làm thật, thì giai đoạn 2026 - 2035 có cơ hội rõ hơn vì hội tụ nền tảng pháp luật, xu hướng thống nhất quản lý nhà nước và ý chí chính trị.

Nhưng cơ hội ấy chỉ trở thành chuyển biến căn bản khi ta chọn đúng nút thắt và tháo bằng “chuẩn hóa theo khung” để vừa liên thông vừa linh hoạt, để chuẩn hóa là nền cho sáng tạo chứ không phải xiềng xích, để tự chủ đi cùng giải trình chứ không phải tự bơi, và để “đột phá” không chỉ là một chu kỳ hô hào mới trên nền quán tính cũ.


Tác giả: TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết