A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Hoàn thuế cho đoàn phim ngoại phải đổi lấy giá trị lâu dài cho Việt Nam

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT) cho các đoàn phim nước ngoài, cùng nhiều cơ chế hỗ trợ dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao. Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, các chính sách này có thể tạo động lực thu hút nguồn lực quốc tế, nhưng phải được thiết kế theo hướng tạo ra giá trị lâu dài cho Việt Nam.

Chia sẻ với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - cho rằng trong cuộc cạnh tranh thu hút các đoàn phim quốc tế, cảnh quan, di sản phong phú hay chi phí nhân công cạnh tranh mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở môi trường đầu tư, thủ tục minh bạch và khả năng giảm chi phí thực tế cho nhà sản xuất.

Ông ví một đoàn phim quốc tế như một “dự án đầu tư lưu động”, mang theo vốn, công nghệ, đội ngũ sáng tạo và nhu cầu sử dụng nhiều loại dịch vụ. Vì vậy, hoàn VAT không nên chỉ được nhìn như việc Nhà nước giảm một phần nguồn thu thuế mà cần được xem là công cụ cạnh tranh có mục tiêu, nhằm thu hút chi tiêu sản xuất, việc làm, dịch vụ và hiệu ứng quảng bá vào Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông, ưu đãi thuế chỉ là một phần của môi trường làm phim. Việt Nam cần đồng thời tháo gỡ các thủ tục về cấp phép, visa, hải quan thiết bị, sử dụng bối cảnh; phát triển mạng lưới dịch vụ sản xuất chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu bối cảnh và một đầu mối hỗ trợ đoàn phim từ khảo sát đến hoàn thành dự án.

anh-man-hinh-2026-09-11-luc-081354.png

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: Bộ VHTT&DL

Ưu đãi phải tạo ra giá trị gia tăng cho Việt Nam

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng lợi ích từ các đoàn phim quốc tế có thể nhìn ở ba tầng. Trước hết là lợi ích kinh tế trực tiếp thông qua chi tiêu cho lưu trú, vận chuyển, ăn uống, bối cảnh, thiết bị, nhân công và hậu cần.

Tiếp đó là tác động đến hệ sinh thái công nghiệp văn hóa khi lao động Việt Nam được tiếp cận quy trình quốc tế, doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, kỹ năng nghề nghiệp được nâng lên và thị trường dịch vụ điện ảnh mở rộng.

Đặc biệt, điện ảnh còn có thể tạo ra giá trị quảng bá hình ảnh quốc gia. Một bộ phim có sức lan tỏa quốc tế có thể đưa cảnh quan, đô thị, di sản, ẩm thực và đời sống Việt Nam đến với hàng triệu khán giả, qua đó hỗ trợ du lịch và gia tăng sức mạnh mềm.

Tuy nhiên, do sử dụng nguồn lực công, ưu đãi cần đi kèm điều kiện và khả năng đo lường. Theo ông, cần xác định ngưỡng chi tiêu tối thiểu đủ điều kiện tại Việt Nam và chỉ hoàn thuế đối với những khoản chi thực tế, có hóa đơn, chứng từ và được kiểm soát minh bạch.

anh-man-hinh-2026-09-11-luc-081508.png

Skull Island là một trong những phim nước ngoài quay tại Việt Nam. Ảnh: ĐPCC

Các dự án cũng nên được khuyến khích sử dụng lao động, doanh nghiệp dịch vụ, thiết bị và hậu kỳ trong nước; với dự án lớn có thể đặt yêu cầu đào tạo, truyền nghề hoặc hợp tác với cơ sở đào tạo Việt Nam.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề xuất nguyên tắc “ưu đãi theo giá trị gia tăng để lại cho Việt Nam”. Dự án tạo nhiều việc làm, sử dụng nhiều dịch vụ trong nước, chuyển giao kỹ năng, hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc tạo hiệu ứng truyền thông - du lịch rõ nét cần được ưu tiên trong khuôn khổ pháp luật.

Chính sách không phải là cuộc đua giảm thuế, mà là một hợp đồng phát triển: Nhà nước chia sẻ một phần chi phí để đổi lấy giá trị kinh tế, năng lực ngành và sức mạnh mềm được giữ lại cho đất nước”, ông nhấn mạnh.

Tháo nút thắt thực thi, biến văn hóa thành tài sản trí tuệ

Đối với các dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng Nhà nước nên ưu tiên những dự án có khả năng tạo hiệu ứng đòn bẩy, kéo theo vốn tư nhân, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường mới, thay vì hỗ trợ dàn trải.

Các lĩnh vực có thể được quan tâm gồm điện ảnh, hoạt hình, nội dung số, trò chơi điện tử và các sản phẩm nghe nhìn có khả năng hình thành tài sản trí tuệ gốc, khai thác dài hạn và xuất khẩu. Bên cạnh đó là những dự án chuyển hóa di sản, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, thời trang, ẩm thực, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn thành sản phẩm có thương hiệu.

Hạ tầng dùng chung như trường quay, trung tâm hậu kỳ - kỹ xảo, phòng thu, nền tảng dữ liệu và không gian sáng tạo cũng cần được đầu tư để tạo hiệu ứng lan tỏa cho nhiều doanh nghiệp.

Theo ông Sơn, “nút thắt” lớn nhất không hẳn là thiếu ưu đãi mà nằm ở khoảng cách giữa chính sách và khả năng thực thi. Công nghiệp văn hóa liên quan đến nhiều lĩnh vực như đầu tư, thuế, đất đai, tài sản công, sở hữu trí tuệ, khoa học - công nghệ, thương mại, du lịch và quản lý địa phương.

Do đó, cần xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm, cơ chế phối hợp liên ngành, thủ tục một cửa, thời hạn giải quyết và tiêu chí áp dụng thống nhất. Với tài sản trí tuệ, cần hoàn thiện cơ chế đăng ký, dữ liệu, định giá và giao dịch để IP thực sự trở thành nguồn vốn của doanh nghiệp sáng tạo.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng cho rằng mục tiêu của Luật không chỉ là thu hút vốn và công nghệ quốc tế mà phải nâng năng lực sáng tạo trong nước. Bản sắc văn hóa cần trở thành nguyên liệu của sáng tạo, từ cốt truyện, hình tượng, thiết kế, âm thanh đến trải nghiệm, qua đó hình thành những tài sản trí tuệ có thể bảo hộ và thương mại hóa.

anh-man-hinh-2026-09-11-luc-082222.png

Tom Cruise từng muốn quay phim ở Việt Nam nhưng không thành. Ảnh: Variety

Việt Nam cần khuyến khích nhà đầu tư quốc tế hợp tác với doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân và nhà sáng tạo trong nước; đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và đưa nội dung, tài sản trí tuệ Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Bảo vệ bản sắc không có nghĩa là đóng kín hay lặp lại truyền thống một cách nguyên xi. Điều quan trọng là giữ được ‘mã văn hóa’ Việt Nam trong những hình thức sáng tạo mới”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Theo ông, thước đo thành công của Luật không chỉ là số dự án nước ngoài hay tổng vốn đăng ký, mà là Việt Nam có thêm bao nhiêu nhân lực giỏi, doanh nghiệp mạnh, công nghệ được làm chủ và tài sản trí tuệ được tạo ra. Khi dòng vốn quốc tế để lại tri thức, công nghệ, IP và thương hiệu Việt, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững và sức mạnh mềm quốc gia.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết