Trao sinh kế, mở hướng thoát nghèo bền vững ở vùng cao Thanh Hóa
Thanh Hóa đang chuyển mạnh từ hỗ trợ trước mắt sang tạo sinh kế, đào tạo nghề, kết nối việc làm, giúp người dân vùng cao chủ động thoát nghèo hơn.
|
| Mô hình nuôi dê của ông Phạm Bá Toàn ở bản Chiềng, xã Mường Mìn với quy mô trên 30 con. |
Phát huy lợi thế để tạo sinh kế
Tại các xã miền núi Thanh Hóa, công tác giảm nghèo đang được triển khai theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn. Từ nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, người dân được tiếp cận vốn vay ưu đãi, học nghề, chuyển giao kỹ thuật và xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, lao động.
Ở thôn Sơn Cao, xã Luận Thành, gia đình anh Trần Văn Mười từng thuộc diện hộ nghèo. Sau khi được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội cùng sự hỗ trợ của địa phương, gia đình anh mạnh dạn đầu tư trồng cây ăn quả, xây dựng trại giống cây lâm nghiệp và mở cửa hàng tạp hóa.
Đến nay, mỗi năm gia đình anh xuất bán khoảng 30-50 tấn bưởi, hơn 2 triệu cây giống, tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động. Sau khi trừ chi phí, thu nhập của gia đình đạt khoảng 400 triệu đồng/năm.
Từ một hộ nghèo, gia đình anh Mười đã vươn lên trở thành hộ khá trong thôn. Câu chuyện này cho thấy, khi chính sách hỗ trợ được gắn với nhu cầu thực tế và khả năng sản xuất của người dân, nguồn lực đầu tư có thể trở thành động lực để các hộ tự tạo thu nhập, từng bước ổn định cuộc sống.
Tại xã Hồi Xuân, phát triển kinh tế đồi rừng kết hợp chăn nuôi được xác định là một trong những hướng đi chủ lực. Địa phương tập trung tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, phát triển du lịch cộng đồng; hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn và xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp.

Mô hình trồng cam ở bản Suối Tút, xã Quang Chiểu giúp nhiều hộ dân thoát nghèo.
Đồng thời, địa phương chú trọng thu hút doanh nghiệp tham gia chế biến lâm sản, qua đó tạo thêm việc làm và nâng cao giá trị sản phẩm tại địa phương.
Đến cuối năm 2025, xã Hồi Xuân còn 43 hộ nghèo, chiếm 1,75%; thu nhập bình quân đầu người đạt 48,26 triệu đồng/năm.
Tại xã Xuân Thái, việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi được thực hiện dựa trên lợi thế của địa phương. Các mô hình chăn nuôi lợn cỏ, lợn rừng lai, gà ri, dê, hươu lấy nhung, dúi, ong mật từng bước được phát triển. Các tổ nhóm, mô hình cộng đồng tự quản và hợp tác xã cũng được hình thành, tạo điều kiện để người dân hỗ trợ nhau trong sản xuất.
Ở xã Thượng Ninh, ông Lê Công Hội ở thôn Cát Xuân là một trong những hộ mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất. Sau khi tham gia lớp tập huấn kỹ thuật nuôi ong năm 2023, ông bắt đầu đầu tư nuôi ong mật, nhân đàn, kết hợp đào ao thả cá, trồng keo và mắc ca trên diện tích 4,8ha. Mô hình tổng hợp này hiện mang lại nguồn thu gần 300 triệu đồng/năm cho gia đình.
Những mô hình trên cho thấy, giảm nghèo ở vùng cao không thể chỉ dựa vào một phương thức chung. Mỗi địa phương cần căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn lao động và lợi thế sản xuất để lựa chọn hướng phát triển phù hợp.
Khi người dân được trao điều kiện sản xuất, được hướng dẫn kỹ thuật và tiếp cận nguồn vốn, họ có thêm cơ hội biến tiềm năng sẵn có thành sinh kế ổn định.
Mở thêm cơ hội từ học nghề, việc làm
Đối với những hộ ít đất sản xuất hoặc không có điều kiện đầu tư, tạo việc làm và nâng cao kỹ năng nghề là hướng đi quan trọng để cải thiện thu nhập.
Tại xã Quan Sơn, công tác giảm nghèo được gắn với tư vấn hướng nghiệp, đào tạo nghề và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Cùng với việc rà soát, phân loại hộ nghèo, cận nghèo, địa phương tổ chức tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; định hướng người dân học nghề tại chỗ hoặc tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Địa phương cũng tăng cường kết nối với doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng, qua đó mở rộng cơ hội việc làm cho lao động vùng cao.

Những căn nhà được xây dựng từ nguồn xuất khẩu lao động ở vùng cao xứ Thanh.
Theo báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, Thanh Hóa đã triển khai hơn 950 mô hình, dự án giảm nghèo hỗ trợ phát triển sản xuất. Hơn 80% người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu thuộc hộ nghèo tại các huyện nghèo cũ, xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp.
Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh cũng xây dựng cơ sở dữ liệu về người tìm việc và việc tìm người; thu thập, cập nhật thông tin của hơn 2.600 đơn vị sử dụng lao động có nhu cầu tuyển dụng và khảo sát thông tin việc làm của hơn 1,1 triệu người lao động.
Từ năm 2022 đến nay, Thanh Hóa tổ chức 16 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm và 55 hội nghị tuyên truyền, tư vấn, giới thiệu việc làm. Các hoạt động này thu hút 391 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh và đào tạo tham gia; hơn 18.000 người lao động được tư vấn, định hướng nghề nghiệp, cung cấp thông tin thị trường lao động và hỗ trợ tìm việc. Trong đó, 2.687 lao động được kết nối việc làm thành công, có 691 lao động thuộc các huyện nghèo.
Cùng với việc làm tại chỗ, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng được xác định là một hướng mở cho người dân vùng khó khăn.
Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo ngoại ngữ, học nghề, khám sức khỏe, làm hộ chiếu, lý lịch tư pháp và các khoản lệ phí liên quan cho người lao động có nhu cầu. Khoảng 11.000 người lao động và thân nhân được tư vấn về cơ hội làm việc ở nước ngoài.
Với những lao động có điều kiện, việc tiếp cận thị trường lao động ngoài nước có thể tạo thêm nguồn thu nhập, giúp tích lũy vốn, kinh nghiệm và đầu tư trở lại cho gia đình.
Cùng với đó, Thanh Hóa chú trọng đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện đào tạo, từng bước đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân.
Từ hỗ trợ sản xuất đến đào tạo nghề, từ kết nối việc làm đến phát triển chuỗi giá trị, các chính sách giảm nghèo đang được triển khai theo hướng tạo thành một hệ sinh thái hỗ trợ tương đối toàn diện. Người dân không chỉ được hỗ trợ nguồn lực ban đầu mà còn có thêm kiến thức, kỹ năng và cơ hội tiếp cận thị trường.











