Nhiều quyết sách giúp thể thao Việt Nam cất cánh
Thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử khi hàng loạt chính sách quan trọng được ban hành, trong đó nổi bật là Nghị định số 349/2025/NĐ-CP...

Bắn cung được kỳ vọng tạo dấu ấn ở ASIAD 20 cũng như trong năm 2026 bên cạnh cầu mây, karate, bắn súng. Ảnh: Bùi Lượng
Đãi ngộ đột phá, vận động viên yên tâm cống hiến
Nghị định số 349/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15-2-2026, được đánh giá là bước tiến vượt bậc trong chính sách đãi ngộ dành cho huấn luyện viên và vận động viên. Lần đầu tiên, thu nhập của lực lượng nòng cốt trong thể thao thành tích cao được nâng lên mức tương xứng với công sức, sự hy sinh và yêu cầu đặc thù của nghề.
Theo quy định mới, mức lương của huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia đạt 1,1 triệu đồng/người/ngày; huấn luyện viên đội tuyển quốc gia và huấn luyện viên trưởng đội tuyển trẻ quốc gia là 750.000 đồng/người/ngày; huấn luyện viên đội tuyển trẻ quốc gia là 550.000 đồng/người/ngày. Nếu tính theo 26 ngày công mỗi tháng, thu nhập của các vị trí này tăng gấp đôi so với trước đây, tạo điều kiện để huấn luyện viên toàn tâm toàn ý với công việc đào tạo và dẫn dắt vận động viên.
Đối với vận động viên, mức hỗ trợ trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu cũng tăng mạnh: vận động viên đội tuyển quốc gia được hưởng 550.000 đồng/người/ngày; vận động viên đội tuyển trẻ quốc gia 430.000 đồng/người/ngày; vận động viên đội tuyển tỉnh, thành phố, ngành 360.000 đồng/người/ngày. Đây là bước cải thiện căn bản giúp vận động viên giảm bớt áp lực mưu sinh, tập trung cho chuyên môn và thi đấu đỉnh cao.

Chế độ thưởng thành tích tại các giải đấu như SEA Games, ASIAD, Olympic được nâng lên tạo động lực cho các vận động viên cống hiến. Ảnh Bùi Lượng
Đặc biệt, chế độ thưởng thành tích được nâng lên mức chưa từng có. Vận động viên giành huy chương vàng Olympic được thưởng 3,5 tỷ đồng; huy chương bạc 2,2 tỷ đồng; huy chương đồng 1,4 tỷ đồng; phá kỷ lục Olympic được thưởng thêm 1,4 tỷ đồng. Ngoài ra, vận động viên đạt thành tích cao còn được hưởng hỗ trợ hằng tháng, từ 10 đến 40 triệu đồng, tùy theo loại huy chương và đấu trường. So với trước đây, mức thưởng này tăng gấp nhiều lần, thể hiện sự trân trọng và ghi nhận xứng đáng đối với nỗ lực và thành quả của vận động viên Việt Nam.
Không chỉ dừng ở thu nhập và thưởng, Nghị định 349 còn mang đậm tính nhân văn khi lần đầu tiên đưa vào quy định cụ thể về chăm sóc sức khỏe, tâm lý và sinh lý cho vận động viên, đặc biệt là vận động viên nữ. Các vận động viên được kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất hai lần mỗi năm, được đánh giá chuyên sâu về tâm lý và sinh học, được hỗ trợ 1,1 triệu đồng/người/tháng cho chế độ chăm sóc sức khỏe sinh sản, hưởng đầy đủ chế độ ốm đau, thai sản theo quy định. Với những vận động viên trọng điểm gặp chấn thương đặc biệt, Nhà nước có thể đưa đi điều trị tại nước ngoài; đồng thời có chính sách ưu đãi giáo dục, giải quyết việc làm sau khi giải nghệ.
PGS, TS Trần Tuấn Hiếu, nguyên Phó Viện trưởng điều hành Viện Khoa học Thể dục thể thao, nhận định: “Thể thao thành tích cao là quá trình tích lũy lâu dài, đòi hỏi cường độ tập luyện khắc nghiệt, nguy cơ chấn thương cao và tuổi nghề ngắn. Việc ban hành Nghị định 349 thể hiện sự nhìn nhận đúng giá trị lao động đặc thù của huấn luyện viên, vận động viên, bảo đảm đãi ngộ thỏa đáng, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội và yêu cầu hội nhập thể thao quốc tế.”
Ở góc độ người trong cuộc, tuyển thủ ju-jitsu Việt Nam Đào Hồng Sơn chia sẻ: “Trước đây, nhiều vận động viên phải làm thêm nhiều nghề để trang trải cuộc sống. Với quy định mới, chúng tôi có thể yên tâm dành toàn bộ thời gian cho tập luyện, thi đấu và cống hiến, hướng tới những mục tiêu cao hơn cho thể thao nước nhà.”
Theo ông Đới Đăng Hỷ, Phó Giám đốc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao Hà Nội, Nghị định 349 là một “cú hích” quan trọng cho thể thao thành tích cao: “Nguồn lực đầu tư, chế độ và chính sách dành cho huấn luyện viên, vận động viên có ảnh hưởng trực tiếp đến lộ trình phát triển và thành tích. Hà Nội hiện là địa phương tiên phong trong cơ chế thu hút nhân tài thể thao, kết hợp với Nghị định 349, chúng tôi kỳ vọng sẽ tiếp tục đóng góp lực lượng chủ chốt cho thể thao Việt Nam trong giai đoạn tới.”

Bên cạnh những chính sách đãi ngộ, sự đồng hành của các doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao chất lượng chuyên môn và gia tăng sức cạnh tranh trên đấu trường quốc tế. Ảnh Bùi Lượng
Kinh tế thể thao – động lực mới cho kỷ nguyên hội nhập
Song hành với chính sách đãi ngộ, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thể thao được xem là trụ cột thứ hai tạo nên bước chuyển mạnh mẽ cho thể thao Việt Nam. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân được đánh giá là “cú hích lớn” mở ra không gian phát triển mới cho ngành thể dục, thể thao.
Nghị quyết khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, giữ vai trò tiên phong trong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đến năm 2030, kinh tế tư nhân phấn đấu đóng góp khoảng 70% GDP, ngày càng nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu, làm chủ công nghệ và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị quốc tế. Trong bức tranh đó, thể thao không còn chỉ là lĩnh vực sự nghiệp, mà trở thành một ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, nhiều tiềm năng sinh lời và đóng góp lớn cho xã hội.
Bà Lê Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Thể dục thể thao Việt Nam, nhấn mạnh: “Bên cạnh chế độ, chính sách dành cho huấn luyện viên, vận động viên, thể thao Việt Nam rất cần được tăng cường đi tập huấn, thi đấu quốc tế, thuê chuyên gia chất lượng, ứng dụng khoa học và công nghệ vào huấn luyện. Điều đó đòi hỏi nguồn lực lớn, không thể chỉ trông chờ vào ngân sách Nhà nước mà cần sự tham gia mạnh mẽ của khu vực tư nhân và toàn xã hội.”
Thực tiễn quốc tế cho thấy, những quốc gia có nền thể thao mạnh đều dựa trên nền tảng kinh tế thể thao phát triển, với sự đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn vào đào tạo, thi đấu, cơ sở hạ tầng, tổ chức sự kiện và khai thác bản quyền. Từ bóng đá, bóng rổ, quần vợt đến các môn Olympic, mô hình hợp tác công – tư, xã hội hóa và thương mại hóa thể thao đã tạo ra nguồn lực dồi dào để nuôi dưỡng tài năng, nâng cao chất lượng chuyên môn và gia tăng sức cạnh tranh.
Ở Việt Nam, những năm gần đây, kinh tế thể thao đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, nhưng vẫn còn nhiều dư địa để bứt phá. Việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 70-KL/TW về phát triển thể dục, thể thao trong giai đoạn mới đã xác định rõ yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kinh tế thể thao, quyền sở hữu, chuyển nhượng, khai thác bản quyền và tài trợ; thúc đẩy xã hội hóa, phát triển thị trường thể thao và hợp tác công – tư.
Theo đó, thể thao được xác định không chỉ là công cụ nâng cao sức khỏe cộng đồng, mà còn là lĩnh vực kinh tế đặc thù, có khả năng tạo ra giá trị lớn từ hàng hóa và dịch vụ liên quan đến tập luyện, thi đấu, giải trí, truyền thông và du lịch thể thao. Khi thị trường thể thao được mở rộng, minh bạch và chuyên nghiệp, các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ mạnh dạn đầu tư, từ đó tạo ra vòng tuần hoàn tích cực giữa kinh tế và thể thao.
Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Nguyễn Danh Hoàng Việt cho rằng, sự kết hợp giữa chính sách đãi ngộ đột phá và thể chế kinh tế thể thao thông thoáng đang tạo nên nền tảng vững chắc để thể thao Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Đây không chỉ là sự thay đổi về con số thu nhập hay cơ chế đầu tư, mà là sự chuyển biến căn bản trong tư duy, cách tiếp cận và chiến lược phát triển thể thao.
Với những quyết sách quan trọng đã và đang được triển khai, có thể tin tưởng rằng thể thao Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá, vươn lên mạnh mẽ và bền vững. Kỷ nguyên mới của thể thao Việt Nam – kỷ nguyên của chuyên nghiệp hóa, hội nhập và chinh phục đỉnh cao ASIAD, Olympic – không còn là kỳ vọng xa vời, mà đang dần trở thành hiện thực.









