A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khơi dậy tiềm năng và sự tự tin giao tiếp tiếng Anh cho học sinh

Học sinh Việt Nam không thiếu tiềm năng học ngôn ngữ, điều các em cần là môi trường để chuyển tri thức, kĩ năng thành năng lực ứng dụng thực tế.

Đó là nhận định của bà Trần Thị Thúy, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Victoria Thăng Long 3 (phường Phúc Lợi, TP Hà Nội) về thực tiễn dạy và học tiếng Anh trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

tieng-anh-2.jpg

Một giờ học tiếng Anh của học sinh Trường Tiểu học và THCS Victoria Thăng Long 3. Ảnh NC.

Từ môn học tới công cụ giao tiếp và tư duy

Chia sẻ với Báo GD&TĐ, bà Trần Thị Thúy khẳng định hướng phát triển của nhà trường là xây dựng môi trường an toàn, hạnh phúc, nhân văn và hiện đại, giúp học sinh có đủ hành trang cần thiết để trở thành công dân toàn cầu.

Để đạt được mục tiêu chiến lược, đáp ứng yêu cầu của thời kì hội nhập, việc hình thành các phẩm chất chủ yếu và phát triển các năng lực cốt lõi, trong đó phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh rất cần được chú trọng.

Song song với việc tích cực trau dồi các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, giữ vững, phát huy vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, việc đẩy mạnh tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai sẽ càng giúp trẻ tự tin, tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc và mở rộng cơ hội hội nhập quốc tế.

Nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh, từng bước hình thành hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh trong dạy học, các hoạt động giáo dục và giao tiếp, xây dựng trường học ESL là định hướng cơ bản mà hệ thống giáo dục Victoria Thăng Long nỗ lực trong suốt nhiều năm qua và đang tiếp tục triển khai trong năm học 2026 – 2027, là hướng tiếp cận phù hợp với chủ trương “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học” của Bộ GD&ĐT đã được Chính phủ phê duyệt.

Chương trình Tiếng Anh của Trường Tiểu học và THCS Victoria Thăng Long 3, được thiết kế với đặc thù riêng, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, để học sinh có nhiều cơ hội sử dụng ngôn ngữ này một cách tích cực, chủ động. Định hướng đó được triển khai hài hòa trên nền tảng chương trình giáo dục Việt Nam cùng các chương trình tiếng Anh quốc tế.

Tùy hệ học và trình độ, học sinh được tiếp cận các môn học bằng tiếng Anh như ESL, Math (Toán tiếng Anh) và Science (Khoa học tiếng Anh), Language Arts (Ngữ văn tiếng Anh) và sử dụng tiếng Anh trong các dự án học tập, hoạt động giáo dục tích hợp liên môn.

Bên cạnh việc sử dụng các giáo trình nước ngoài có bản quyền, học sinh còn được học tập, thực hành, ôn tập củng cố kiến thức thông qua hệ thống nền tảng học tập trực tuyến đa dạng và hấp dẫn, giúp học sinh luôn có hứng thú khi học Tiếng Anh, khơi dậy sự đam mê với ngôn ngữ và duy trì thói quen, nền nếp học tập tự giác, chủ động.

Nhà trường cũng tạo môi trường ngôn ngữ được tạo dựng cả trong và ngoài lớp học, trong mỗi trang sách của môn học Tiếng Anh và trong mỗi hoạt động giáo dục có thể tích hợp. Tiếng Anh xuất hiện trong các khẩu lệnh, các chỉ dẫn quen thuộc, trên hành lang, góc Thư viện, nhà ăn, hay các bảng biểu song ngữ; trong các hoạt động tập thể, câu lạc bộ, sự kiện giáo dục và qua tương tác với giáo viên Việt Nam, giáo viên nước ngoài.

Tuy nhiên, chiều sâu của môi trường ngôn ngữ nằm ở các nhiệm vụ học tập, nơi học sinh được hướng dẫn dùng tiếng Anh để thực hiện một mục đích, một nhiệm vụ học tập cụ thể.

Trong giờ học ESL và Language Arts, học sinh được đọc để tìm thông tin và suy luận, nói, nghe để giải thích và trao đổi, được viết để tổ chức ý tưởng, thuyết trình để truyền đạt hoặc thuyết phục. Những sản phẩm thực tế như poster về tiết kiệm điện, nước; dự án “The Cinema World”; hoạt động tranh biện về cuộc sống hiện tại và quá khứ; cùng nhau biểu diễn nhạc kịch nhân dịp Giáng sinh “Our Christmas journey: Love is the key”; hào hứng tham gia sân khấu hóa tác phẩm văn học trong chương trình “Bay lên từ trang sách” cho thấy tiếng Anh được sử dụng như một công cụ để tìm hiểu, hợp tác, sáng tạo và trình bày sản phẩm.

Để hoàn thành một dự án, một nhiệm vụ học tập, học sinh phải đọc tài liệu, chọn thông tin, trao đổi với bạn, xây dựng nội dung, huy động vốn ngôn ngữ để diễn đạt và phản hồi câu hỏi. “Như vậy, một sản phẩm học tập đồng thời phản ánh năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy và các kĩ năng giao tiếp, hợp tác của các em”, bà Trần Thị Thúy chia sẻ.

tieng-anh-1.jpg

Học sinh Trường Tiểu học và THCS Victoria Thăng Long 3. Ảnh NC.

Giáo viên quyết định chất lượng môi trường ngôn ngữ

Để tạo môi trường học tiếng Anh, việc tăng thời lượng tiếp xúc với ngôn ngữ này là cần thiết nhưng chưa đủ. Chất lượng ngôn ngữ đầu vào, nhiệm vụ học tập, mức độ tương tác và cách giáo viên hỗ trợ học sinh mới quyết định thời gian tiếp xúc có chuyển hóa thành năng lực hay không.

Bà Thuý cho biết thêm: “Cùng với học liệu khoa học và nền tảng học tập trực tuyến, Hệ thống giáo dục Victoria Thăng Long chú trọng phát triển chuyên môn giáo viên. Giáo viên được tập huấn các nội dung như dạy đọc Language Arts, thiết kế hoạt động viết, dạy nói, dạy ngữ pháp theo hướng ứng dụng; đồng thời được dự giờ, phản hồi để cải thiện cách đặt câu hỏi, tổ chức thảo luận, hướng dẫn đọc và tăng cơ hội cho học sinh sử dụng ngôn ngữ. Việc phối hợp giữa giáo viên Việt Nam và giáo viên nước ngoài trong nhà trường cũng góp phần mở rộng môi trường giao tiếp và đa dạng hóa nguồn ngôn ngữ cho học sinh.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, bà Trần Thị Thúy nhấn mạnh: chìa khóa để trẻ sử dụng tiếng Anh thành thạo là duy trì môi trường tiếp xúc dài hạn, liên tục. Khi có đủ thời gian, các em sẽ từ từ thẩm thấu và phản xạ ngôn ngữ một cách tự nhiên tương tự như quá trình học tiếng mẹ đẻ.

Thời gian người học được tiếp xúc với tiếng Anh không nhiều là hạn chế trong bức tranh dạy và học tiếng Anh ở nhiều trường học từ trước tới nay. Thời lượng học được quy định trong chương trình thường là vài tiết học mỗi tuần, dù nhiều trường có bổ sung thêm các tiết học tăng cường nhưng vẫn còn giới hạn nhất định.

Do đó, bà Trần Thị Thúy cho rằng, các nhà trường có thể linh hoạt tạo sân chơi thực tế để học sinh trải nghiệm, va chạm với môi trường ngôn ngữ.

“Nếu chỉ học đóng khung trong những bài học sách vở, cơ hội thực hành sẽ bị hạn chế. Cần thay đổi và tạo cơ hội để học sinh ứng dụng những kiến thức, kĩ năng của mình vào thực tế và làm chủ tiếng Anh”, bà Trần Thị Thúy nhấn mạnh.

Nhà trường cho học sinh được làm quen với tiếng Anh từ ngay những năm đầu bậc Tiểu học, tạo thời gian tích lũy ngôn ngữ tương đối dài và liên tục.

Theo đánh giá thực tế, học sinh Tiểu học khá hồn nhiên khi tiếp xúc và đón nhận với một ngôn ngữ mới và giao tiếp tự tin. Câu chuyện của một học sinh lớp 1 từng khá e dè nhưng dần tự tin để hóa thân vào nhân vật trong hoạt động sân khấu tiếng Anh cũng cho thấy môi trường tâm lý an toàn và sự khích lệ của giáo viên có ý nghĩa lớn đối với quá trình tiếp thụ và sử dụng ngôn ngữ của học trò.

“Từ thực tế đó, tôi cho rằng cần tin tưởng các em; mỗi đứa trẻ đều có nhiều tiềm năng hơn những gì người lớn có thể hình dung. Khả năng ngôn ngữ của các em hầu hết sẵn có, chờ đợi được khơi dậy thông qua môi trường phù hợp”, bà Trần Thị Thúy cho hay.

Như vậy, điều các trường học cần làm là tạo môi trường giao tiếp cởi mở, mạnh dạn trao cơ hội cho các em thoải mái phát huy tiềm năng của chính mình. Quan trọng hơn, cần thường xuyên khích lệ để học sinh tự tin vào bản thân và có khát vọng vươn lên, các em sẽ không chỉ thành thạo tiếng Việt, tiếng Anh mà còn có thể làm chủ nhiều ngôn ngữ khác.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết